Page Nav

HIDE

Grid

GRID_STYLE

Classic Header

{fbt_classic_header}

Breaking News:

latest

KHI NHÀ VĂN TRỒNG RỪNG

KHI NHÀ VĂN TRỒNG RỪNG                                                                                                                  Vũ H...

KHI NHÀ VĂN TRỒNG RỪNG
                                                                                                                 Vũ Hữu Sự
Nghe tin nhà văn Bùi Minh Chức (Hội VHNT tỉnh Hòa Bình) từ trần. Do ốm đau, không thể lên để tiễn anh về nơi yên nghỉ cuối cùng, tôi đăng lại bài báo tôi viết về anh, đã đăng trên báo NNVN năm 2012, để thay cho một nén hương tiễn anh.
Những năm 80 của thế kỷ trước, tấm bằng đại học có giá hơn bây giờ rất nhiều, và càng có giá hơn khi chủ nhân của tấm bằng đó lại là một người dân tộc thiểu số. Vì vậy, vừa tốt nghiệp khoa Sử của trường đại học tổng hợp Hà Nội (nay là trường đại học quốc gia Hà Nội) ở tuổi 23, lại thêm có khiếu về văn chương, chàng thanh niên dân tộc Mường Bùi Minh Chức đã được một nhà xuất bản lớn ở thủ đô đón vào làm việc. Thế nhưng, chỗ đứng đầy tương lai đó cũng không thể giữ chân được anh, khi tình yêu lên tiếng. Và anh đã bỏ NXB đó để lên với công trường xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà với cô công nhân cùng dân tộc với mình.
Hồi ấy, dưới mắt người đời, những kẻ “bỏ việc nhà nước” là những kẻ vô cùng xấu xa. Thế nên, dù có học, có tài, nhưng Chức vẫn không sao xin nổi việc ở công trường, dù anh đã chấp nhận làm bất cứ việc gì, miễn là có việc. Thất nghiệp, Chức đành làm đủ thứ, từ lên rừng chặt nứa, lấy củi, hái măng...Đến buôn bán lặt vặt để kiếm sống và sáng tác. Vợ chồng anh dựng một túp lều ở rẻo đất hoang trong công trường làm chỗ tá túc. Những năm ấy, cuộc sống khổ cực vô cùng. Tiếng là công trường lớn nhất nước, được hưởng rất nhiều ưu đãi, nhưng từ cái kim sợi chỉ đến cân gạo, lạng thịt...Tất cả phải đủ “tiêu chuẩn”, tức là phải nằm trong biên chế, là “người nhà nước” thì mới được phân phối qua tiêu chuẩn tem phiếu.
Tình yêu dẫu đầy ắp hai trái tim, nhưng suất gạo chỉ 19 kg của vợ khiến cho hai cái bụng lúc nào cũng vơi, cũng réo sôi sùng sục. Nhất là sau khi lấp sông Đà và tổ máy số 1 của nhà máy bắt đầu phát điện, thì hàng loạt công nhân bị ép phải nghỉ theo chế độ 176. Mỗi người chỉ được nhận một số tháng lương đúng bằng số năm mình đã lao động trên công trường, ngoài ra không còn bất cứ một chế độ nào khác. Chị Bùi Thị My, vợ anh Chức, cũng nằm trong số người phải nghỉ việc đó. Những năm tháng ấy, vợ chồng anh thực sự đã bị đẩy đến bước đường cùng.
“Van nợ lắm khi trào nước mắt/ Chạy ăn từng bữa, toát mồ hôi”. Hai câu thơ đó, tôi ngờ là cụ Tú ở thành Nam viết riêng cho vợ chồng anh. Đám bạn bè tâm giao, cùng sở thích viết lách như Tạ Duy Anh, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh và tôi, còn may mắn hơn vợ chồng anh ở chỗ ngày hai bữa còn được vác miệng xuống nhà ăn tập thể để nhận suất ăn nửa gạo nửa ngô hay một phần gạo, một phần sắn khô, một phần hạt bo bo, thứ hạt mà ở các xứ sở của bọn “dẫy chết”, người ta chỉ dùng để nuôi lợn.
Có năm, ngày 30 tết rồi mà thấy bếp nhà Chức vẫn lạnh tanh, tôi mời vợ chồng anh sáng mùng một đến công ty công trình ngầm với tôi. Nhưng gần trưa mùng một, chỉ có mình Chức đến, tôi hỏi :
   -Chị My đâu ?
   -Không đi được.
   -Sao vậy ?
   -Dẫu nghèo đến mấy thì ngày tết vẫn phải có người ở nhà, kẻo các cụ về mà thấy nhà đóng cửa, các cụ phải bơ vơ ở ngoài thì tủi lắm. Sống sao thác vậy mà.
Miệng cười, nhưng mắt anh đỏ hoe, ầng ậc nước. Nhìn quanh phòng tôi, thấy chẳng khác gì ngày thường, anh hỏi :
   -Tết của ông đâu ?
Tôi chỉ tay :
   -Tết kia kìa.
Nói vậy là vì chiều 30 tháng chạp, tôi được chia một cân thịt lợn. Nhà chẳng có xoong nồi gì, tôi mượn vợ chồng anh bạn cạnh nhà một cái xoong, thái thịt ra bỏ vào xào lên. Xào xong, tôi trút tất vào cái chụp bảo vệ đèn cao áp mà tôi nhặt được ở đống đồ phế thải của công ty, để còn trả xoong. Cũng may là cái chụp đèn bằng thủy tinh rất dầy, nên thịt nóng đổ vào không bị nứt. Đặt cái chụp đèn đựng đầy thịt ở giữa, hai chúng tôi ngồi đối diện, mỗi thàng một đôi đũa, rót rượu ra cái bát rồi cứ chuyền nhau uống, và sắn thịt trong chụp đèn mà nhắm. Nhiều năm sau, Chức vẫn nhắc đến cái “tết chụp đèn” ấy.
Nhưng chính trong những năm tháng đói nghèo đến mức không còn cái gì có thể đói nghèo hơn, anh chị đã bắt đầu...Trồng cây. Đằng sau khu nhà ở của chuyên gia Liên Xô, dưới chân núi Dè có một khu đất hoang, cây tạp và gai góc mọc chằng chịt, muốn lên đó phải leo một đoạn dốc khá dài. Ngày ngày, sau thời gian chạy vạy, xoay sở để có vài bò gạo đổ vào nồi, chị My lại vác phảng lên khu đất ấy phát gai, dọn cỏ, đào hố. Còn Chức, ngoài thời gian phụ với vợ kiếm gạo và xoay trần ra vật lộn với cuốn tiểu thuyết tư liệu về phật giáo Hòa Hảo mà anh đã nghiên cứu, tích cóp tài liệu từ hồi còn làm ở nhà xuất bản (mấy năm sau, khi về học ở trường viết văn Nguyễn Du, tôi đã mời anh về Hà Nội ở cùng với tôi, chia xẻ miếng cơm sinh viên đạm bạc, để anh có thời gian hoàn thành cuốn sách. Nhưng tiếc thay, vì một số lí do, mà đến nay cuốn sách vẫn chưa ra đời đươc). Hết phát gai, dọn cỏ, đào hố, đến phần trồng cây. Nhưng tiền mua cây giống không có, đành phải lặn lội đi xin. Ngày năm cây, ngày mười cây, xin được cây gì thì trồng cây nấy. Cứ thế, khu rừng càng ngày càng mở rộng ra
Trồng được cây đã khó. Nhưng tưới cây, chăm cây, bảo vệ cây còn khó hơn. Nước ở xa, máy bơm không có, đành gánh từng gánh leo dốc lên mà tưới. Đúng lúc đó, căn nhà của anh chị bị công trường đuổi để lấy mặt bằng xây dựng. Không còn chỗ nương thân, anh chị đành dọn đến cái nhà kho bỏ hoang của khu chuyên gia để ở. Được cái, chỗ ở mới rất gần với chỗ trồng rừng.
Chỉ có một tình yêu thiên nhiên, yêu rừng đến cháy bỏng, mới khiến hai con người đó “lăn vào với rừng” như vậy. Bởi lúc đó nào có ai bắt họ phải trồng rừng. Và bản thân anh chị cũng chưa hề nghĩ đến chuyện lợi lộc gì trong việc trồng rừng này. Chức bảo cả hai vợ chồng anh đều quê ở huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình. Kim Bôi, nghĩa là cái chén vàng. Tôi yêu văn tài của Chức cũng chính từ truyện ngắn “cái chén vàng” viết cho thiếu nhi đó. Lời văn đôn hậu, ngôn từ trong sáng, trí tưởng tượng phong phú, cách kể chuyện hấp dẫn. Kim Bôi là đất Mường Động cũ, có núi, có hang, có rừng. Tất cả đều tươi đẹp lạ thường. Khát vọng được sống với rừng không lúc nào không cháy trong anh.
Khi tỉnh Hòa Bình (trước đây thuộc tỉnh Hà- Sơn- Bình) được tái lập, Chức được mời về làm việc ở Sở Văn hóa (nay là sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch) tỉnh, anh trở thành hội viên hội văn học nghệ thuật tỉnh, thành hội viên hội văn hóa dân gian Việt Nam, thành biên tập viên rồi thành phó tổng biên tập tờ Văn nghệ Hòa Bình. Vĩnh biệt những ngày dài thất nghiệp. Suất lương, tuy còn khiêm tốn nhưng cũng khiến vợ chồng anh có điều kiện hơn để lo cho rừng.
Bẵng đi mấy năm không gặp. Lần này lên Hòa Bình, tìm thăm vợ chồng anh, tôi ngỡ ngàng trước rừng cây tuyệt đẹp nơi vợ chồng anh đang ở. Cả ngàn cây lát hoa với hơn ba trăm cây sưa đỏ, cây to đã có đường kính từ mười lăm đến hai mươi phân tây, cây nhỏ cũng mười phân. Chiều cao, có cây đã xấp xỉ chục mét. Lát hoa là loại cây cho gỗ cực quý, nhất là loại lát hoa châu Mai. Một thời, chỉ những nhà giầu mới có được chiếc giường hay chiếc tủ bằng gỗ lát hoa. Sưa đỏ còn quý hơn lát hoa gấp nhiều lần. Ngoài ra, còn tre, còn luồng và hàng chục loại cây khác.
Vẫn chưa có nhà ở. Vợ chồng anh vẫn tá túc trong cái kho bỏ hoang cạnh rừng cây. Chức bảo, khu rừng này vợ chồng anh đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) với thời hạn lâu dài. Rất nhiều người đã tìm đến vợ chồng anh, trả khu rừng này với cái giá lớn hơn con số một và đằng sau nó là chín số không. Chỉ cần gật đầu, vợ chồng anh sẽ có ngay một ngôi nhà đẹp ở thành phố Hòa Bình. Nhưng anh nhất định không bán, vì “không ai có thể bắt được chúng tôi xa rừng. Cánh rừng này đã trở thành một phần máu thịt của vợ chồng tôi”.




No comments