Page Nav

HIDE

Grid

GRID_STYLE

Classic Header

{fbt_classic_header}

Breaking News:

latest

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THAM GIA VÀO ĐẤU TRANH KIỂM SOÁT CHÍNH QUYỀN CỦA MỘT ĐẢNG ĐỐI LẬP NỔI TIẾNG VIỆT NAM : ĐẢNG ĐẠI VIỆT.

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THAM GIA VÀO ĐẤU TRANH KIỂM SOÁT CHÍNH QUYỀN CỦA MỘT ĐẢNG ĐỐI LẬP NỔI TIẾNG VIỆT NAM : ĐẢNG ĐẠI VIỆT. Đảng c...

SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ THAM GIA VÀO ĐẤU TRANH KIỂM SOÁT CHÍNH QUYỀN CỦA MỘT ĐẢNG ĐỐI LẬP NỔI TIẾNG VIỆT NAM : ĐẢNG ĐẠI VIỆT.

Đảng chưa bao giờ nắm chính quyền nhưng đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra một môi trường  , thể chế dân chủ trong lịch sử hơn 100 năm của Việt Nam cận đại. 

Đại Việt Quốc dân Đảng, thường được gọi tắt là Đảng Đại Việt, là một đảng phái chính trị của Việt Nam, thành lập từ năm 1939. Đảng Đại Việt là một trong những đảng chính trị có vai trò quan trọng trong lịch sử Việt Nam suốt từ khi thành lập đến năm 1975. Trong quá trình hoạt động, các đảng viên Đại Việt nhiều lần phân hóa, sáp nhập, dẫn đến sự hình thành nhiều hệ phái khác nhau. Sau năm 1975, hầu như các hoạt động chính trị của đảng viên Đại Việt đều ở hải ngoại.

Ngày 10 tháng 12 năm 1938, Trương Tử Anh công bố một chủ thuyết tư tưởng về triết học và chính trị, gọi là Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn. Chủ thuyết này về sau được các đồng chí của ông phát triển thêm, khái quát thành những điểm chính sau:

- Con người gồm những bản năng cơ bản là Vị kỷ, Tình dục và Xã hội
- Để sinh tồn thì các bản năng này phải mạnh hơn những cá thể khác.
- Để bản năng mạnh mẽ cần có Sức mạnh, Biến cải và Hợp quần.
Tóm lại, để tồn tại, mỗi cá thể phải tạo cho mình sự vượt trội hơn đa số cá thể khác trong xã hội. Mở rộng ra, mỗi dân tộc, muốn sinh tồn phải có được ưu thế tương tranh để vượt lên được dân tộc khác. Điều này, về sau được ông nêu rõ trong Tuyên ngôn thành lập Đảng: "Chúng ta phải nhận thức rằng trên lập trường quốc tế, giữa các quốc gia chỉ có quyền và lợi mà thôi. Mọi hành động của nước này đối với nước khác không ngoài mục đích ấy".

Cơ cấu trung ương đầu tiên của Đảng gồm 16 người với Trương Tử Anh làm Đảng trưởng, có trụ sở đặt ở Hà Nội. Trung ương trực tiếp điều hành Xứ bộ Bắc Việt trong khi Trung Việt và Nam Việt có xứ bộ riêng. Ngoài ra Đảng còn có nhân sự hoạt động ở Lào và Cao Miên. Bên cạnh đó, một chi bộ Đảng đặc biệt được thành lập ở Phú Yên được gọi là Chi bộ Đảng trưởng đặt dưới quyền trực tiếp của Trung ương. 

Những đảng viên chủ chốt bấy giờ có Nguyễn Tiến Hỷ, Nguyễn Sĩ Dinh, Phan Cảnh Hoàng, Trương Bá Hoành, Đặng Vũ Trứ, Nguyễn Sơn Hải, Tạ Thành Châm, Phan Bá Trọng, Nguyễn Tôn Hoàn, Nguyễn Định Quốc, Đặng Xuân Tiếp, Đặng Vũ Lạc, Ngô Gia Hy, Đặng Văn Sung, Bùi Diễm, Trần Trung Dung, Nguyễn Đình Luyện, Phan Huy Quát, Lê Thăng, Bửu Hiệp, Hà Thúc Ký, Hoàng Xuân Tửu, Dương Thiệu Di. Nguyễn Tôn Hoàn được giao phó làm phát ngôn viên của Đảng và liên lạc viên giữa các Xứ bộ.

Sau khi giành được chính quyền, ngày 5 tháng 9 năm 1945, nhân danh Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng vì cho rằng "Đại Việt quốc gia xã hội Đảng đã tư thông với ngoại quốc để mưu những việc có hại cho sự độc lập Việt Nam và Đại Việt Quốc dân Đảng đã âm mưu những việc hại cho sự độc lập quốc gia và nền kinh tế Việt Nam".

Việc giải tán Đại Việt Quốc dân Đảng đã làm các đảng viên Đại Việt mất khả năng tham chính. Trước chiến thắng của Việt Minh trong cuộc Tổng tuyển cử, ngày 15 tháng 12 năm 1945, Đại Việt Quốc dân đảng cùng với Việt Nam Quốc dân đảng (lãnh tụ là Vũ Hồng Khanh) và Đại Việt Dân Chính Đảng (lãnh tụ là Nguyễn Tường Tam) thành lập Mặt trận Quốc dân Đảng Việt Nam để chống lại "phe Cộng sản". Cờ hiệu của Đại Việt là lá cờ nền đỏ, tròng xanh, sao trắng và ca khúc "Việt Nam Minh châu trời đông" của Hùng Lân được dùng chung cho cả Mặt trận. Trương Tử Anh làm Chủ tịch, Vũ Hồng Khanh làm Bí thư trưởng và Nguyễn Tường Tam làm Tổng thư ký. Việc tham gia Mặt trận Quốc dân đảng giúp các đảng viên Đại Việt có lại khả năng tham chính dưới danh nghĩa của Mặt trận.

Đối với chương trình hành động của Mặt trận Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân Đảng đưa ra kế hoạch bốn điểm nhằm chống lại Việt Minh trong việc bầu cử Quốc hội và thành lập Chính phủ Liên hiệp:

- Phát động phong trào toàn dân bất hợp tác với Việt Minh
- Tách rời cựu hoàng Bảo Đại ra khỏi Việt Minh và vô hiệu hóa Quốc hội Việt Minh
- Thành lập một Trung tâm chính trị ở hải ngoại
- Củng cố các chiến khu, tăng cường khối Quốc dân Quân, mở rộng địa bàn hoạt động.

So với các đảng phái khác, vốn có thực lực bởi hậu thuẫn bởi nước ngoài (Việt Quốc, Việt Cách) hoặc tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo), Đại Việt chỉ thuần túy dựa vào các đảng viên, thiếu hẳn lực lượng quân sự mạnh. Nhận thức được điều này, dưới danh nghĩa Mặt trận Quốc dân Đảng ở miền Bắc và Mặt trận Quốc gia Liên hiệp ở miền Nam, Đại Việt cho ra nhật báo Việt Nam, tuần báo Chính nghĩa và đặc san Sao trắng, dưới quyền lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng bộ đặt ở Hà Nội. Những ấn phẩm khác có báo Đồng minh, và Thanh niên. Đảng cũng lập ra Phong trào Quốc gia Bình dân và Đoàn Thanh niên Bảo quốc để vận động và tranh thủ lực lượng quần chúng tranh đua với Việt Minh.

Rải rác khắp ba miền, Đảng cũng cho thành lập chiến khu ở Kép (Bắc Giang), Lạc Triệu (Bắc Giang), Yên Bái, Di Linh (huyện Nông Cống, Thanh Hóa), An Điền (huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định), An Thành (Vĩnh Long), và Ba Rài (Mỹ Tho) để xây dựng các căn cứ và xây dựng lực lượng quân sự mạnh chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo. Riêng ở Lạc Triệu và Yên Bái thì có trường huấn luyện sĩ quan.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, khi Chính phủ Liên hiệp ký kết Hiệp định Sơ bộ với Pháp, đồng ý cho Pháp kéo ra phía bắc vĩ tuyến 16 để giải giới quân đội Nhật Bản thay cho quân đội Trung Hoa Quốc dân đảng theo Hiệp ước Pháp-Hoa trước đó. Việc này đã làm cho Việt Quốc và Việt Cách, hai đảng có hậu thuẫn mạnh từ chính phủ Trùng Khánh, mất đi chỗ dựa, dẫn đến yếu thế trước sức mạnh của Việt Minh. Tranh chấp giữa Việt Minh và các đảng phái khác trong Chính phủ Liên hiệp vào thời điểm này càng sâu sắc, thậm chí đã bùng dậy xung đột võ trang. Nhân cơ hội người Pháp chưa có hành động võ trang, chính phủ Việt Minh tìm cách tiễu trừ thế lực của Việt Quốc, là đảng "đối lập" có thực lực quân sự, bắt giam nhiều lãnh đạo của Việt Quốc dựa theo vụ án Ôn Như Hầu, sau đó tấn công căn cứ quân sự Việt Quốc tại Vĩnh Yên. Một số lãnh đạo của Mặt trận Quốc dân Đảng cũng bị mất tích.

Đại Việt cũng nằm trong kế hoạch diệt trừ thế lực chống đối của chính phủ Việt Minh. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, khi tiếng súng báo hiệu cuộc chiến tranh Đông Dương bắt đầu thì đảng trưởng Trương Tử Anh đột ngột mất tích. Một số người cho là bị Việt Minh thủ tiêu.

Sau Hiệp định Genève, hầu hết đảng viên và các cơ sở của Đại Việt đều dời vào miền Nam. Bấy giờ, Đại Việt đã trở thành đảng phái chính trị Quốc dân có lực lượng hùng hậu.

Tuy nhiên, lo ngại trước viễn cảnh cát cứ, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã lần lượt tiêu diệt các thế lực chính trị đối lập mạnh, trong đó có Đại Việt. Các chiến khu Nguyễn Huệ (Phú Yên) và Châu Đốc đều bị giải tán, chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị) bị quân đội tiến đánh khiến tan vỡ. Nhiều lãnh đạo Đảng Đại Việt bị bắt giam, thủ tiêu hoặc phải lưu vong ra nước ngoài.

Dọn sạch mọi thế lực cản trở, Thủ tướng Ngô Đình Diệm thực hiện trưng cầu dân ý, thành lập nền cộng hòa và lên làm Tổng thống. Do thái độ không chấp nhận đối lập của Ngô Đình Diệm, hầu hết các đảng đối lập, trong đó có Đại Việt, hầu như không được tham chính. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn giữa các lãnh đạo càng nghiêm trọng, dẫn đến hoạt động của Đảng gần như ngưng hẳn.

Tuy vậy, các đảng Quốc dân nhiều lần tìm cơ hội trở lại chính trường. Ngày 11 tháng 11 năm 1960, nổ  ra cuộc đảo chính quân sự do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Đại Việt cùng với Việt Quốc ra tuyên cáo ủng hộ đảo chính. Tuy nhiên, cuộc đảo chính nhanh chóng thất bại. Để trả đũa, Ngô Đình Nhu đã ra lệnh trấn áp tổ chức của 2 đảng này.

Ngày 27 tháng 2 năm 1962, hai phi công Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc đã bất ngờ ném bom Dinh Độc Lập mưu sát Tổng thống Diệm nhưng không đạt được mục đích. Lấy lý do Đại Việt có liên can trong việc lập kế hoạch cũng như tổ chức việc ném bom, Ngô Đình Nhu một lần nữa thực hiện trấn áp mạnh mẽ đối với tổ chức của Đại Việt.

Mãi sau khi cuộc đảo chính năm 1963 với nền Đệ Nhất Cộng hòa bị lật đổ và Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại thì các đảng phái chính trị đối lập, trong đó có Đại Việt, mới hoạt động trở lại. Tuy nhiên, giữa các lãnh đạo của Đảng đã có sự phân hóa trầm trọng. Trung ương đảng sau năm 1964 không nhóm họp nữa vì những chia rẽ nội bộ. Nguyên do chính là khác biệt căn bản về đường lối đấu tranh.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, đại bộ phận của Đại Việt thoát ra nước ngoài. Bắt đầu từ năm 1981 thành phần Tân Đại Việt do Nguyễn Ngọc Huy huy động lập ra Liên minh Dân chủ Việt Nam, vận động kết hợp mọi đảng viên Đại Việt cũ nay lưu vong ở Bắc Mỹ, Úc và Châu Âu trở lại sinh hoạt Đảng. Ngày 28 tháng 5 năm 1988, Nguyễn Ngọc Huy và cựu Đại sứ Bùi Diễm tổ chức cuộc họp với các lãnh đạo của Đại Việt Quốc dân đảng, Tân Đại Việt và Đại Việt Cách mạng tại San José, California, đề nghị thống nhất thành Đại Việt Quốc dân Đảng, nhưng không thành. Ngày 28 tháng 7 năm 1990, Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời tại Paris và ý định thống nhất ba đảng Đại Việt cũng tan thành mây khói.

Tuy không thể thống nhất với các đảng Đại Việt khác, một đại hội 3 ngày, 30 tháng 6, 1 và 2 tháng 7 năm 1995, được tổ chức tại Irvine, California, để tổ chức lại Ban chấp hành Trung ương Đại Việt Quốc dân Đảng. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn được Đại hội bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hoàng Trí Tài được bầu làm Tổng thư ký.

Ngày 26, 27 và 28 tháng 11 năm 1998, một đại hội bất thường họp tại San José, California để bầu một Ban chấp hành mới. Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn được bầu làm Chủ tịch Đảng, bác sĩ Lý Ngọc Dưỡng làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, Vũ Văn Phấn (Quốc Vinh) làm Chủ tịch Ban Giám sát.

Dương Hoài Linh



Không có nhận xét nào